so van de ly thuyet sang tao cua sach

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Nguyễn Hùng (trang riêng)
Ngày gửi: 12h:19' 09-05-2010
Dung lượng: 124.0 KB
Số lượt tải: 20
Nguồn: st
Người gửi: Nguyễn Hùng (trang riêng)
Ngày gửi: 12h:19' 09-05-2010
Dung lượng: 124.0 KB
Số lượt tải: 20
Số lượt thích:
0 người
Một số vấn đề về lý thuyết sáng tạo nhìn từ quá trình ra đời của sách “Tân thể thi sao” (1882) và tân thể thi
Nguyễn Lương Hải Khôi
Nguyễn Lương Hải Khôi(*)
1. “Tân thể thi sao”: tiếp nhận để sáng tạo
Trong lịch sử văn học Nhật Bản, sách “Tân thể thi sao” (1) năm 1882, được xem là điểm khởi đầu của thi ca hiện đại. Quyển sách này gồm 19 bài, trong đó có 14 bài thơ dịch và có 5 bài thơ sáng tác. Ra đời trong thời kỳ Nhật Bản bắt đầu lĩnh hội văn minh Phương Tây để tự khai sáng, sách này cung cấp cho ta những cứ liệu tốt để khảo sát về hiện tượng hiện đại hóa như là một dạng thức của sáng tạo.
Các tác giả của sách này là Toyama Masakazu, Yatabe Ryokichi và Inoue Tetsujiro (2). Cả ba đều không phải là nhà thơ chuyên nghiệp. Họ đến với thơ ca như một cuộc chơi nghiêm túc, khơi nguồn cho một dòng chảy mới, rồi trao nhiệm vụ lại cho những thi nhân đích thực, và vui vẻ từ giã thi đàn.
Inoue Tetsujiro từng du học về triết học tại Đức, là phó giáo sư triết học tại Đại học Tokyo. Yatabe Ryokichi từng du học Mỹ, là giáo sư sinh vật học tại Đại học Tokyo. Toyama Masakazu từng du học Anh thời kỳ Edo (trước cải cách Minh Trị), sau cải cách thì du học Mỹ, là giáo sư xã hội học ở Đại học Tokyo, về sau từng đảm nhiệm hai vị trí là hiệu trưởng trường này và Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Như vậy ta thấy cả ba người này đều là những nhà khoa học làm việc ở một trường đại học đóng vai trò đi đầu trong công cuộc du nhập triết học, tư tưởng, và khoa học tự nhiên của Phương Tây vào Nhật Bản thời Minh Trị. Những con người khởi nguồn cho phong trào canh tân thơ ca của thời đại mới, trong trường hợp Nhật Bản, không phải là những nhà thơ chuyện nghiệp, phải chăng là do các nhà thơ chuyện nghiệp bị cột chặt vào bề dày ngàn năm của tư duy thi ca truyền thống? Việc ba nhà khoa học đi làm thơ dẫu không để lại cho thi đàn một bài thơ có giá trị nghệ thuật nào cả, nhưng lại tạo ra một hiệu quả lớn khác: đem tư duy khoa học tự nhiên áp dụng vào thi ca, họ đã thoát khỏi lối mòn tư duy thi ca truyền thống, khai mở cho một dòng tư duy mới, đặt viên gạch đầu tiên kiến thiết nên con đường đi tới tính hiện đại của thi ca Nhật Bản.
Trong lịch sử lý luận văn học, “Mỹ học tiếp nhận” Đức nhấn mạnh đến quá trình tiếp nhận tác phẩm của người đọc như là một thành tố hoàn thành toàn bộ quá trình văn học. Nhưng sự “tiếp nhận” của “người đọc”, trong cách nghĩ của “Mỹ học tiếp nhận”, không gì khác hơn là sự “tiếp nhận” để “thưởng thức”. Quyển sách “Tân thể thi sao” trong lịch sử văn học Nhật là bằng chứng có tính thực chứng của một một trong những hiện tượng tiếp nhận khác nữa, “tiếp nhận” để “sáng tạo”.
Tiếp nhận để sáng tạo là dạng thức tư duy hướng đến mục đích thức nhận và sáng tạo bản sắc của thể loại, thức nhận mô hình của nó và quá trình tư duy sáng tạo dựa trên mô hình ấy. Chúng ta có thể quan sát thấy nhiều dạng thức tiếp nhận để sáng tạo trong lịch sử văn học.
Một là, du nhập toàn bộ cấu trúc thể loại của kẻ khác, chẳng hạn như, cả Việt Nam và Nhật Bản đều du nhập từ Trung Quốc các thể loại của thơ Đường và tiểu thuyết chương hồi, không chỉ du nhập toàn bộ cấu trúc loại thể mà còn viết bằng chính ngôn ngữ sinh ra các loại thể ấy. Về thơ, ở Việt Nam, do tiếng Việt và tiếng Hán đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, chúng ta có thể áp dụng thi luật của Đường thi để viết thơ bằng tiếng Việt, bắt đầu từ Nguyễn Thuyên đời Trần.
Hai là hiện tượng phóng tác. Trong giai đoạn hiện đại hóa, tức giai đoạn bắt đầu thức nhận văn minh Phương Tây, đây là hiện tượng có tính quy luật ở phần còn lại của thế giới. Phổ biến nhất ở thể loại tiểu thuyết.
Ba là, tái cấu trúc thể loại: tiếp nhận các đặc trưng thể loại của kẻ khác, lai ghép với truyền thống của mình, nhưng không dừng lại ở việc thay đổi một vài yếu tố đơn lẻ của cấu trúc (ví dụ như chuyển 7 chữ thành 6 chữ như trong kết cấu thất ngôn bát cú Nôm Nguyễn Trãi) mà là tiến đến chỗ kiến tạo loại thể mới. “Song thất lục bát” của Việt Nam và “Tân thể thi” của Nhật Bản là những ví dụ điển hình.
Thực ra, những hiện tượng nói trên đã là một trong những đối tượng
Nguyễn Lương Hải Khôi
Nguyễn Lương Hải Khôi(*)
1. “Tân thể thi sao”: tiếp nhận để sáng tạo
Trong lịch sử văn học Nhật Bản, sách “Tân thể thi sao” (1) năm 1882, được xem là điểm khởi đầu của thi ca hiện đại. Quyển sách này gồm 19 bài, trong đó có 14 bài thơ dịch và có 5 bài thơ sáng tác. Ra đời trong thời kỳ Nhật Bản bắt đầu lĩnh hội văn minh Phương Tây để tự khai sáng, sách này cung cấp cho ta những cứ liệu tốt để khảo sát về hiện tượng hiện đại hóa như là một dạng thức của sáng tạo.
Các tác giả của sách này là Toyama Masakazu, Yatabe Ryokichi và Inoue Tetsujiro (2). Cả ba đều không phải là nhà thơ chuyên nghiệp. Họ đến với thơ ca như một cuộc chơi nghiêm túc, khơi nguồn cho một dòng chảy mới, rồi trao nhiệm vụ lại cho những thi nhân đích thực, và vui vẻ từ giã thi đàn.
Inoue Tetsujiro từng du học về triết học tại Đức, là phó giáo sư triết học tại Đại học Tokyo. Yatabe Ryokichi từng du học Mỹ, là giáo sư sinh vật học tại Đại học Tokyo. Toyama Masakazu từng du học Anh thời kỳ Edo (trước cải cách Minh Trị), sau cải cách thì du học Mỹ, là giáo sư xã hội học ở Đại học Tokyo, về sau từng đảm nhiệm hai vị trí là hiệu trưởng trường này và Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Như vậy ta thấy cả ba người này đều là những nhà khoa học làm việc ở một trường đại học đóng vai trò đi đầu trong công cuộc du nhập triết học, tư tưởng, và khoa học tự nhiên của Phương Tây vào Nhật Bản thời Minh Trị. Những con người khởi nguồn cho phong trào canh tân thơ ca của thời đại mới, trong trường hợp Nhật Bản, không phải là những nhà thơ chuyện nghiệp, phải chăng là do các nhà thơ chuyện nghiệp bị cột chặt vào bề dày ngàn năm của tư duy thi ca truyền thống? Việc ba nhà khoa học đi làm thơ dẫu không để lại cho thi đàn một bài thơ có giá trị nghệ thuật nào cả, nhưng lại tạo ra một hiệu quả lớn khác: đem tư duy khoa học tự nhiên áp dụng vào thi ca, họ đã thoát khỏi lối mòn tư duy thi ca truyền thống, khai mở cho một dòng tư duy mới, đặt viên gạch đầu tiên kiến thiết nên con đường đi tới tính hiện đại của thi ca Nhật Bản.
Trong lịch sử lý luận văn học, “Mỹ học tiếp nhận” Đức nhấn mạnh đến quá trình tiếp nhận tác phẩm của người đọc như là một thành tố hoàn thành toàn bộ quá trình văn học. Nhưng sự “tiếp nhận” của “người đọc”, trong cách nghĩ của “Mỹ học tiếp nhận”, không gì khác hơn là sự “tiếp nhận” để “thưởng thức”. Quyển sách “Tân thể thi sao” trong lịch sử văn học Nhật là bằng chứng có tính thực chứng của một một trong những hiện tượng tiếp nhận khác nữa, “tiếp nhận” để “sáng tạo”.
Tiếp nhận để sáng tạo là dạng thức tư duy hướng đến mục đích thức nhận và sáng tạo bản sắc của thể loại, thức nhận mô hình của nó và quá trình tư duy sáng tạo dựa trên mô hình ấy. Chúng ta có thể quan sát thấy nhiều dạng thức tiếp nhận để sáng tạo trong lịch sử văn học.
Một là, du nhập toàn bộ cấu trúc thể loại của kẻ khác, chẳng hạn như, cả Việt Nam và Nhật Bản đều du nhập từ Trung Quốc các thể loại của thơ Đường và tiểu thuyết chương hồi, không chỉ du nhập toàn bộ cấu trúc loại thể mà còn viết bằng chính ngôn ngữ sinh ra các loại thể ấy. Về thơ, ở Việt Nam, do tiếng Việt và tiếng Hán đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, chúng ta có thể áp dụng thi luật của Đường thi để viết thơ bằng tiếng Việt, bắt đầu từ Nguyễn Thuyên đời Trần.
Hai là hiện tượng phóng tác. Trong giai đoạn hiện đại hóa, tức giai đoạn bắt đầu thức nhận văn minh Phương Tây, đây là hiện tượng có tính quy luật ở phần còn lại của thế giới. Phổ biến nhất ở thể loại tiểu thuyết.
Ba là, tái cấu trúc thể loại: tiếp nhận các đặc trưng thể loại của kẻ khác, lai ghép với truyền thống của mình, nhưng không dừng lại ở việc thay đổi một vài yếu tố đơn lẻ của cấu trúc (ví dụ như chuyển 7 chữ thành 6 chữ như trong kết cấu thất ngôn bát cú Nôm Nguyễn Trãi) mà là tiến đến chỗ kiến tạo loại thể mới. “Song thất lục bát” của Việt Nam và “Tân thể thi” của Nhật Bản là những ví dụ điển hình.
Thực ra, những hiện tượng nói trên đã là một trong những đối tượng
 












